Thứ Bảy, 22 tháng 6, 2013

Cây Duối

Duối hay Ruối, Duối nhám- Streblus asper Lour., thuộc họ Dâu tằm - Moraceae.

Mô tả: Cây nhỏ, cao 4-5m. Thân và cành khúc khuỷu. Lá mọc so le, hình trứng, cứng, ráp, mép khía răng. Hoa đơn tính khác gốc. Cụm hoa đực dạng đầu có cuống, đính ở dưới những cành ngắn, gồm 10-12 hoa. Cụm hoa cái chỉ có 1 hoa. Quả mọng màu vàng, gắn trên đài tồn tại.

Mùa hoa quả tháng 6-11.

Bộ phận dùng: Vỏ rễ, vỏ thân, lá và mủ - Cortex Radicis, Cortex, Folium et Latex Strebli Aspris.

Nơi sống và thu hái: Loài của Ấn Độ, Xri Lanca, Mianma, Nam Trung Quốc, Thái Lan, Campuchia, Malaixia, Inđônêxia, Philippin và Việt Nam. Ở nước ta, cây mọc hoang ở vùng đồi núi và thường được trồng làm hàng rào ở khắp nơi; trồng bằng gieo hạt hoặc bằng cành. Thu hái các bộ phận của cây quanh năm; mủ dùng tươi, các bộ phận khác rửa sạch, thái ngắn, phơi khô, sao vàng.

Thành phần hoá học: Trong mủ có nhựa và một ít cao su; ở mủ đông đặc, tỷ lệ nhựa là 76%, cao su là 23%. Nhựa có tác dụng làm đông mủ. Vỏ chứa một chất đắng, còn có một glucosid là streblosid.

Tính vị, tác dụng: Duối có vị đắng, chát, tính mát, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, thông huyết, cầm máu, sát trùng. Người ta nhận thấy chất đắng của vỏ có tác dụng đối với cơ tim tương tự như adrenalin. Streblosid có thể so sánh với digitoxin.

Công dụng, chỉ định và phối hợp: Quả chín ăn ngọt và thơm. Lá Duối dùng để đánh bóng đồ gỗ. Gỗ mịn, trắng, mềm, đẹp thường dùng để khắc dấu, tiện đồ đạc. Vỏ chứa nhiều xơ dùng dệt túi, làm nguyên liệu chế bông nhân tạo và làm giấy. Lá làm thức ăn cho gia súc. Nhiều bộ phận được dùng làm thuốc: 1. Lá Duối: chữa trâu bò đau bụng ỉa chảy và xoa bóp chữa bại liệt; còn dùng chữa nắng nóng. Lá sao vàng chữa băng huyết, kiết lỵ. Lá non giã đắp trị vết thương chảy máu (thêm ít vôi tôi). 2. Nhựa mủ Duối dùng dán hai bên thái dương chữa nhức đầu; cũng dùng chữa đinh sang, lở chốc; 3. Vỏ Duối dùng chữa sâu răng, đau bụng, sốt, đi ỉa chảy, lỵ, trị được ho và lao phổi, phong thấp đau nhức, chó dữ cắn và đắp bó chữa gẫy xương; 4. Cành và rễ thái mỏng sắc uống làm thuốc thông tiểu chữa bụng trướng. Vỏ rễ chữa đái đục, bí đái. Liều dùng 12-20g dưới dạng thuốc sắc để uống và ngậm. Dùng ngoài lấy lượng vừa đủ. Ở Ấn Độ, nước sắc vỏ dùng chữa sốt, lỵ và ỉa chảy. Rễ dùng đắp trị mụn nhọt mưng mủ và viêm; cũng dùng trị rắn cắn. Nhựa mủ sát trùng, làm se, dùng đắp nứt nẻ ở tay và ở gót chân.

Đơn thuốc:

1. Chữa phù thũng: Dùng lá Duối 12g, vỏ Bưởi (sao vàng) 12g, vỏ Quýt 12g, cây Bố rừng 12g, vỏ Tỏi 10g, củ Sả 10g. Đổ 600ml nước sắc còn 200ml, uống mỗi thang 2 nước trong 1 ngày.

2. Đái đục: Dùng vỏ rễ Duối, vỏ rễ Nhót, mỗi vị 20g, sắc uống.

3. Bó gãy xương: Dùng vỏ Duối giã nhỏ với lá Thanh táo, dây Tơ hồng và Chuối tiêu đắp bó.

4. Sâu răng: Dùng vỏ Duối sắc đặc ngâm.

Lá cây Chay - thuốc có tác dụng ức chế miễn dịch

Theo kinh nghiệm dân gian: Lá Chay được thu hái phơi khô (quanh năm) để chữa bệnh đau lưng, mỏi gối, phong tê thấp. nhược cơ... dưới dạng thuốc sắc, dùng độc vị hoặc phối hợp với nhiều vị thuốc khác.
Cây Chay còn có tên Chay ăn trầu, Chay vỏ tía, Chay Bắc Bộ. Tên khoa học Artocarpus tonkinensis A chev, họ Dâu tằm (Moraceae). Cây Chay là loại cây gỗ, cao 10 m - 15 m. Thân nhẵn, thẳng, phân nhiều cành. Cành non có lông nhung màu nâu nhạt, cành già màu xám. Lá mọc so le, mặt trên nhẵn bóng, mặt dưới có lông trên những đường gân. Phiến lá to hình trái xoan hay bầu dục thon, dài 1,5 cm - 2 cm. Hoa đơn độc ở kẽ lá, trên cùng một cây có hoa đực và hoa cái. Quả phức, khi chín mềm có màu vàng; thịt quả màu hồng, vị chua, hơi ngọt; hạt to (như hạt lạc nhỏ), màu hồng nhạt, rang ăn rất ngon. Mùa hoa: tháng 3 - 4, mùa quả: tháng 7 - 9. Cây càng hái lá thì lá lại ra rất nhanh.
Cây Chay mọc hoang ở nhiều tỉnh miền Bắc nước ta, còn được trồng để ăn quả và lấy vỏ rễ ăn trầu.
Cây Chay đã được nghiên cứu như sau:
Lá Chay được chiết bằng nước, làm bột mịn bằng phương pháp sấy phun sương, đóng viên nhộng 400 mg để thử độc tính, thử lâm sàng đối chiếu với cyclosporin A.
Thử độc tính, thấy không độc, có tác dụng tốt cho quá trình sinh trưởng của động vật thí nghiệm.
Thử lâm sàng, bệnh nhược cơ: 31 bệnh nhân uống viên nhộng lá Chay, 92% bệnh nhân khỏi bệnh. Đối chứng với số bệnh nhân được điều trị bằng phương pháp cắt bỏ tuyến ức chỉ đạt 75%. Bệnh nhân điều trị bằng prednisolon chỉ đạt 88%.
Trong 2 năm 1998 và 1999, Viện Hóa học đã xác định được cấu trúc hóa học của 6 chất triterpenoid trong đó có 4 chất ít thấy trong tự nhiên và đã thử hoạt tính sinh học các phân đoạn tách từ dịch chiết lá Chay đối chứng với cyclosporin A, cho kết quả:
Tác dụng ức chế miễn dịch trên gà đã gây suy giảm miễn dịch bằng virus Gumboro, dịch chiết lá Chay tương đương cyclosporin A.
Khi tăng liều: cyclosporin A: tăng độc tính, dịch chiết lá Chay: không có độc tính.
Kết luận: dịch chiết lá Chay có tác dụng điều hòa hệ miễn dịch tương đương cyclosporin A, nhưng an toàn không độc cyclosporin A.
Theo Thuốc và Sức khỏe

Sao đen


Sao đen
Sao đen - Hopea odorata Roxb., thuộc họ Sao dầu - Dipterocarpaceae.
Mô tả: Cây gỗ lớn có thân cao suôn thẳng từ 20-30m, có những lằn nứt dọc theo thớ, màu đen. Lá gần như không cuống, hình trái xoan thuôn hay trái xoan ngọn giáo, nhọn tù, dài 6-17cm, rộng 3-9cm, mặt trên láng và xanh bóng, mặt dưới mịn; gân chính rõ với 7-10 cặp gân phụ. Hoa nhỏ, mọc thành chùm màu trắng, có mùi thơm nhẹ. Quả có 2 cánh lớn dài 5-6cm, do 2 thuỳ của đài hoa cùng lớn lên. Vỏ quả dai và mỏng, lúc chín có màu nâu.
Bộ phận dùng: Vỏ cây, nhựa - Cortex et Resina Hopeae Odoratae.
Nơi sống và thu hái: Loài của Ấn Độ, Thái Lan, Mianma, Lào, Campuchia và Việt Nam. Ở nước ta, cây mọc hoang ở rừng các tỉnh Tây Nguyên và Nam Bộ, trong các rừng rậm. Cũng thường được làm cây bóng mát. Thu hái vỏ cây quanh năm. Cạo bỏ lớp vỏ ngoài, rửa sạch, thái nhỏ, phơi khô.
Thành phần hoá học: Sao đen cho một chất nhựa có màu sắc thay đổi từ vàng nhạt đến vàng đỏ hay nâu thẫm. Thành phần chủ yếu là các acid damarolic và damaresen a  b. Mặt trong của vỏ cây hay cành lớn còn chứa một tỷ lệ tanin cao (14,57% của trọng lượng khô).
Tính vị, tác dụng: Vỏ Sao đen có vị chát, có tác dụng làm săn da, cầm máu, làm chắc chân răng.
Công dụng: Người ta dùng vỏ Sao đen thay vỏ Chay để ăn trầu. Vỏ còn dùng chữa viêm lợi, áp xe lợi và trị sâu răng.
Ở Ấn Độ, nhựa cây dùng dưới dạng bột làm thuốc cầm máu.
Cách dùng Có thể dùng vỏ khô ngâm rượu hoặc sắc nước đặc để ngậm.
- Ngâm rượu: Lấy vỏ sao cạo sạch lớp ngoài, cho vào rượu thường (30-40o). Sau vài giờ, ta được dịch chiết màu nâu đen hơi đỏ, ngả sang màu sôcôla. Dùng rượu này súc miệng ngày 3 lần, mỗi lần 3 lượt liền, ngậm rồi nhổ nước đi.
- Sắc nước: Lấy 50g vỏ thêm 30ml nước cho vào đun sôi, giữ sôi trong 15 phút, dùng nước sắc súc miệng, ngậm trong 10-15 phút. Ngày làm 2-3 lần, dùng liền trong 3-4 ngày.